Danh mục tin tức

Một số loại phân vô cơ thông dụng (Phần 1: Phân đơn)

Phân Đơn: Là loại phân chỉ chứa 1 trong 3 nguyên tố dinh dưỡng: N, P hoặc K, có 3 loại phân đơn là
+ Phân đạm:Loại phân bón vô cơ cung cấp N cho cây.
+Phân lân: Loại phân bón vô cơ cung cấp P cho cây
+Phân kali: Loại phân bón vô cơ cung cấp K cho cây
Sau đây Hacheco.vn xin chia sẻ với bà con kiến thức về các loại phân vô cơ, ứng dụng và cách sử dụng để đạt hiệu quả cao nhất.

1. Phân đạm

* Phân Urê CO(NH4)2:

Phân urê chứa 44 – 48%N nguyên chất. Đây là loại đạm phổ biến nhất  và tỷ lệ N cao nhất, chiếm tới 59% sản lượng đạm được sản xuất ở các nước trên thế giới.
Lân tồn tại chủ yếu ở 2 dạng:
- Loại dạng tinh thể màu trắng, dễ tan trong nước, hút ẩm mạnh, cần bảo quản nơi khô ráo.
- Loại dạng viên nhỏ, dễ bảo quản.
 Tác dụng: Phân urê thích hợp với nhiều loại đất khác nhau và nhiều loại cây trồng khác nhau.
 
Cách sử dụng: Phân urê thường dùng để bón thúc bằng cách pha với nồng độ 0.5 – 1.5% để phun lên lá.
 
Trong chăn nuôi, urê được dùng để cho thêm vào khẩu phần thức ăn cho lợn, trâu bò.
Cách bảo quản: Gói kỹ trong túi polyetylen và không được phơi ra nắng, các túi phân urê khi đã mở ra cần được dùng hết ngay trong thời gian ngắn.

* Phân sunphat đạm (NH4)2SO4:

 Amoni sunphat còn gọi là phân SA. Sunphat đạm có chứa 20 – 21% N nguyên chất và 29% lưu huỳnh (S).
 
SA có dạng tinh thể, mịn, màu trắng ngà hoặc xám xanh, dễ tan trong nước. Phân này có mùi nước tiểu (mùi amôniac), vị mặn và hơi chua.
Sunphat đạm cung cấp cả Nitơ và lưu huỳnh - hai chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây.
.
Có thể bón cho tất cả các loại cây trồng, trên nhiều loại đất khác nhau, đặc biệt là đất đồi, đất bạc màu(thiếu S), hạn chế dùng cho đất phèn chua vì dễ làm chua thêm đất.
Nếu đất chua cần bón vôi, lân trước khi bón Sunphat đạm. Đạm sunphat được dùng chuyên để bón cho các loại cây cần nhiều S và ít N như đậu đỗ, lạc v.v.. và các loại cây vừa cần nhiều S vừa cần nhiều N như ngô.
Cần lưu ý đạm sunphat có tác dụng nhanh, thường dùng để bón thúc cho cây trồng và nên bón thành nhiều lần, không nên bón cho cây non đề phòng cháy lá.

* Phân Xianamit canxi:

Phân này có dạng bột, màu xám tro hoặc màu trắng
Xianamit canxi có chứa 20 – 21% N nguyên chất, 20 – 28% vôi, 9 – 12% than.
Bảo quản nơi khô ráo.
Phân này dễ bốc bụi, gây độc khi tiếp xúc qua da, mắt, thật cẩn thận khi sử dụng.
Khác với SA, Ure, Xianamit canxi rất tốt ở các loại đất chua.
Xianamit canxi thường được dùng để bón lót. Xianamit canxi được trộn ủ với phân rác làm cho phân chóng hoai mục. Không được dùng để phun lên lá cây.

2. Phân lân

* Phân apatit:

Là loại lân tự nhiên, dạng bột mịn, màu nâu đất hoặc màu xám nâu.
Tỷ lệ lân nguyên chất từ 20-40%
Phần lớn lân trong phân apatit ở dưới dạng khó hấp thụ, trong phân còn chứa vôi có tác dụng khử chua cho đất.
Sử dụng và bảo quản phân này tương đối dễ dàng vì phân ít hút ẩm và ít biến chất.

* Super lân:

Là loại bột mịn màu trắng, vàng xám hoặc màu xám thiếc. Ngoài ra còn có dạng super lân viên.
Trong super lân có 16 – 20% lân nguyên chấtcùng thạch cao, axit...
Phân dễ hoà tan trong nước, nên cây dễ háp thụ, hiệu quả nhanh, ít bị rửa trôi.
Super lân dùng để bón lót hoặc bón thúc.
Phân này phù hợp với nhiều loại đất. Tuy nhiên, nếu dùng cho đất chua nên bón vôi khử chua trước để đạt hiệu quả cao nhất.
Super lân ít hút ẩm, tuy nhiên nếu dính ẩm phân có thể bị nhão và vón thành từng cục. Phân có tính axit nên dễ làm hỏng bao bì và dụng cụ đong đựng bằng sắt.

* Tecmô phôtphat 

Hay còn gọi là phân lân nung chảy: Phân có dạng bột màu xanh nhạt, gần như màu tro, có óng ánh.
Tỷ lệ lân nguyên chất trong tecmô phôtphat là 15 – 20%, canxi 30%, magiê 12 – 13%, có khi có cả kali và các nguyên tố vi- đa lượng khác.
Tecmô phôtphat có phản ứng kiềm, tuyệt đối không trộn với đạm hay bón cùng đạm vì có thể làm mất đạm.
Phân này không tan trong nước, nhưng tan được trong axit yếu, được dùng để bón lót hay bón thúc.
Tecmô phôtphat rất phù hợp với vùng đất chua, vì phân có phản ứng kiềm.

3. Phân Kali

- Bón kali ở các loại đất trung tính dễ làm cho đất trở nên chua. Vì vậy ở các loại đất trung tính nên kết hợp bón thêm vôi
- Kali nên bón kết hợp với các loại phân khác.
- Kali có thể bón thúc bằng cách phun dung dịch lên lá vào các thời gian cây kết hoa, làm củ, tạo sợi.
- Tro bếp cũng chưa hàm lượng lớn kali
- Bón quá nhiều kali có thể gây tác động xấu lên rễ cây, làm cây teo rễ
Các loại cây cần bón kali là: chè, mía, thuốc lá, dừa, chuối, khoai, sắn, bông, đay, v.v..
Các loại phân Kali

* Phân clorua kali:

Phân có dạng bột màu hồng như muối ớt hoặc xám đục, xám trắng. Phân được kết tinh thành hạt nhỏ.
Hàm lượng kali nguyên chất trong phân là 50 – 60%.
Clorua kali là loại phân chua sinh lý. Phân này khi để khô có độ rời tốt, dễ bón. Nhưng nếu để ẩm phân kết dính lại với nhau khó sử dụng.
Hiện nay, phân clorua kali được sản xuất với khối lượng lớn trên thế giới và chiếm đến 93% tổng lượng phân kali.
Clorua kali có thể dùng để bón cho nhiều loại cây trên nhiều loại đất khác nhau. Có thể dùng phân này để bón lót hoặc bón thúc. Bón thúc lúc cây sắp ra hoa làm cho cây cứng cáp, tăng phẩm chất nông sản.
Clorua kali rất thích hợp với cây dừa vì dừa là cây ưa Clo. Không nên dùng phân này để bón vào đất mặn, là loại đất có nhiều Clo, và không bón cho thuốc lá là loại cây không ưa Clo. Phân này cũng không nên dùng bón cho một số loài cây hương liệu, chè, cà phê, vì phân ảnh hưởng đến phẩm chất nông sản.

* Phân sunphat Kali:

Phân có dạng tinh thể nhỏ, mịn, màu trắng. Phân dễ tan trong nước, ít hút ẩm nên ít vón cục.
Hàm lượng Kali nguyên chất trong sunphat Kali là 45 – 50%. Ngoài ra trong phân còn chứa lưu huỳnh 18%.
Phân này có thể sử dụng thích hợp cho nhiều loại cây trồng. Sử dụng có hiệu quả cao đối với cây có dầu, rau cải, thuốc lá, chè, cà phê.
Sunphat Kali là loại phân chua sinh lý. Sử dụng lâu trên một chân đất có thể làm tăng độ chua của đất. Không dùng sunphat kali liên tục nhiều năm trên các loại đất chua, vì phân có thể làm tăng thêm độ chua của đất.
 

Đối tác của Hacheco