Danh mục tin tức

Magiê - Yếu tố trung lượng thiết yếu cho cây trồng

Tên gọi chung của các loại phân cung cấp Mg2+ cho cây trồng
Hàm lượng magiê trong cây gần bằng lưu huỳnh và cao hơn lân. Số lượng magiê trong một tấn thóc còn cao hơn lưu huỳnh. 1 tấn thóc chứa 3.99kg MgO. Trong 1 tấn lua mì có 2kg MgO và nếu tính cả rơm rạ là 3.5 kg MgO.
vai trò của Magiê vừa là vai trò của yếu tố cấu tạo (cấu tạo nên sắc tố) vừa là yếu tố gây tác động đến các quá trình chuyển hóa như các vi lượng. Nó là thành phần của các enzim hoặc có tác dụng xúc tác hoạt động của các enzim. Vì vậy yếu tố magiê thường được đưa vào hỗn hợp các phân vi lượng, Trong trường hợp này nó nên được xem là loại phân sinh hóa.
Các tác dụng chính của Magiê đến đời sống cây trồng có thể kể ra như sau:
1. Là thành phần cấu tạo của Clorofin, và của các xantofin và caroten, do đó ảnh hưởng đến hoạt động quang hợp và tính chống chịu và chất lượng sản phẩm.
2. Ảnh hưởng đến sự tạo thành gluxit, các chất béo, protit do tác động đến quá trình vận chuyển lân trong cây.
3, Ảnh hưởng đến quá trình hút lân, vận chuyển lân và tạo thành các hợp chất lân dự trữ như estephotphoric, phytin
4. Ảnh hưởng đến sự tạo thành các lipit. Hiện tượng này có thể do tác động đến sự vận chuyện các hợp chất có chứa lân
5. Magiê làm tăng tính trương nước của tế bào do đó tăng tính giữ nước của tế bào giúp cho cây chống hạn.
6. Magiê có tác dụng đối kháng với các cation khác (Ca++, NH4++, K++...) do đó giữ được pH thích hợp trong cây giúp chây chịu chua
7. Một tác dụng đáng chú ý của Magiê là tạo được sự cân đối với Ca, làm cho chất lượng của sản phẩm chăn nuôi tốt hơn trách nhiệm tránh bệnh uốn ván do cỏ.
Magiê giúp cho sự vận chuyển đường bột về các cơ quan dự trữ của cây vì vậy cung cấp đủ Magiê là cho củ hạt nhiều bột, mía nhiều đường, quả ngọt hơn. Magiê làm tăng hiệu quả phân lân và phân đạm, tăng sự tổng hợp protein trong hạt các cây họ đâu, Magiê cần cho sự hình thành chất béo, có lợi cho cây lấy dầu (lạc, vừng, đậu tương, cọ dầu, dừa...). Magiê cần cho sự hình thành tinh dầu có lợi cho cây lấy tinh dầu (bạc hà, sả, cà phê, chè, ca cao). Magiê cần cho sự hình thànhnhựa mù (cao su, thông nhựa sơn). Tỷ lệ Magiê cao trong hạt củ quả và thức ăn gia súc làm cho giá trị nuôi dưỡng người và gia súc tăng lên.
Người ta đã phát hiện hiện tượng cỏ chăn nuôi thiếu Magiê do nhiều năm bón Kali gây ra bệnh uốn ván cho bò cừu và các loại ăn cỏ đó.
Magiê có ảnh hưởng đến chất lượng lá dâu cho tằm ăn. Dau được bón đủ magiê lá dày hơn, tằm ăn ít bệnh, dày kén, tơ dài và bền hơn.
Hiện tượng thiếu Magiê thường biểu hiện trước tiên ở các lá già. Lá bị mất màu xanh. Phần thịt lá mất màu trước. Không giống như thiếu Kali, sự mất màu xanh bắt đầu ở mép lá, sự mất màu xanh do thiếu Magiê xuất hiện trước tiên ở phần thịt giữa các gân lá tạo thành các đốm vàng rất rõ. Sau một thời gian phần đó chết đi và lá rụng sớm. Hiện tượng lan dần lên các lá phía trên nếu thiếu trầm trọng. Đốm vàng là do sự tạo thành anthoxyan, nên nhiều khi lá chuyển sang màu vàng đỏ. Đối với cây dứa thiếu Magiê, các lá phía dưới xuất hiện màu vàng, sau đó lá héo queo như bị luộc, vì vậy được gọi là bệnh luộc lá dứa. Bệnh này thwòng xuất hiện trong mùa rét và khô hanh, có thể do điều kiện rét và khô hanh làm cho sự hút magiê khó khăn hơn và hoạt động các enzym yếu đi. Đối với cây ngô, mép lá cây thiếu magiê hơi gợn sóng và giữa các gân lá thứ cấp vẫn có màu vàng, tọa thành các sọc xanh vàng rất rõ.
Đối với lạc và đậu tương, gân lá nhỏ nên hiện tượng vàng gần như toàn lá, và chỉ có những vết hoại thư trên lá biểu hiện rõ.
Hiện tượng thiếu Magiê thường xuất hiện ở giai đoạn cuối của cây.
Cần chú ý bảo đảm nhu cầu Magiê cho các loại cây sau đây:
1. Cây hòa thảo: ngô, lúa, lúa mì
2. Cây học cà: cà chua, khoai tây
3. Cây họ thập tự
4. Cây họ đậu
5. Cây ăn quả: dứa, cam quýt, nho
6. Cây lấy tinh dầu và nhựa mủ.
 
Độ dinh dưỡng của phân Magie được đánh giá bằng hàm lượng %MgO trong phân.
Magiê (Mg) là một chất dinh dưỡng thiết yếu cho thực vật, là thành phần quan trọng của clorophyll và đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp.
Ở thực vật, Mg được hấp thụ ở dạng ion Mg2+. Giống như canxi (Ca2+), Mg tới các rễ cây do di chuyển theo trọng lượng và khuếch tán. Lượng Mg do các cây trồng hấp thụ thường ít hơn Ca hoặc K. Mg trong các phân tử clorophyll chiếm khoảng 10% tổng Mg ở lá. Hầu hết Mg ở cây trồng đều nằm trong nhựa cây và tế bào chất.
 
Cấu tạo clorophyll (diệp lục)
Mg được phân loại như một chất dinh dưỡng trung lượng. Mg thực hiện một số chức năng điều chỉnh, hóa sinh và sinh lý trong thực vật như: Hình thành clorophyll, kích hoạt của enzym, tổng hợp protein và hình thành nhiễm sắc thể, chuyển hóa hyđrat cacbon và vận chuyển năng lượng.
Ngoài ra, Mg còn hoạt động như một chất xúc tác trong các phản ứng khử oxy hóa trong các mô thực vật. Nó cũng hỗ trợ hoạt động của sắt (Fe) và giúp các thực vật chống lại tác động có hại của quá trình thông khí kém. Bằng cách sử dụng một tác động tích cực dựa vào các màng tế bào và các màng thấm, Mg có thể làm tăng khả năng chống lại khô hạn và bệnh tật của cây trồng.
 
Các loại phân và hợp chất chứa Magie
 
1. Phân lân nung chảy (Văn Điển, Ninh Bình) chứa 15 - 17% MgO.
 
 
Như vậy bón 60kg/ha P2O5 (360kg phân) có thể cung cấp cho cây 54 kg MgO một lượng MgO đủ để đảm bảo cân bằng magie.
 
2. Photphat cứt sắt (photphat xỉ lò) có 2-5% MgO
 
Phân bón phốt phát từ xỉ lò được sử dụng trong nông nghiệp ở một số quốc gia.
Bảng Thành phần của xỉ cơ bản: P2O5: 15 - 20%; Al2O3: 0.5 - 2.5%; CaO: 42 - 50%; Fe2O3: 9 - 13%; SiO2: 4 - 6%; MnO: 3 - 6%; MgO: 2 - 5%
 
3. Phân sunphat kali - magiê chứa 5 – 10% MgO
 
 
Các dạng khoáng vật bao gồm:
§     Kainit: MgSO4• KCl• H2O (19% K2O; 12,9% S; 9,7% MgO)
§     Schönit: K2SO4 • MgSO4 • 6 H2O
§     Leonit: K2SO4 • MgSO4 • 4 H2O
§     Langbeinit: K2SO4 • 2 MgSO4
§     Glaserit: K3Na(SO4)2
§     Polyhalit: K2SO4 • MgSO4 • 2 CaSO4 • 2 H2O
 
 
4. Dolomite và dolomite nung
 
Dolomite là loại đá vôi có khá nhiều ở nước ta. Tỷ lệ magie trong dolomite nước ta trình bày trong bảng sau:
 
Tỷ lệ %
CaO/MgO
CaO
MgO
Đá vôi dolomite A
54,7 - 42,4
0,9 - 9,3
90/10
Đá vôi dolomite B
42,4 - 31,6
9,3 - 17,6
75/25
Dolomite
31,6 - 30,2
17,6 - 20
60/40
Đá vôi
56,1 - 54,7
0 - 0,9
 
 
Dolomite và Dolomite nung
Có thể dùng  ở dạng MgO (dolomite nung) hay MgCO3 (dolomite nghiền). Tỷ lệ MgO trong dolomite nung cao hơn dolomite nghiền. Tỷ lệ MgO trong một số dolomite nung như sau:
Nung từ dolomite: 29,3 - 33,3% MgO
Nung từ đá vôi dolomite A 1,5 - 5,5% MgO
Nung từ đá vôi dolomite B 15,5 - 29,3 MgO
 
5. Secpentin
Secpentin là loại khoáng silica magie có chứa 2Mg.2SiO3.2H2O hay Mg3H42O9, ngoài ra còn có MgSiO3 và một ít hợp chất sắt. Hàm lượng MgO là 18-25% và SiO2 là 40-48%.
 
6. Phân borat magiê (admontit) chứa 19% Mg
Admontit là một khoáng vật borat magie với công thức hóa học MgB6O10·7H2O. Nó được đặt theo tênAdmont, Úc. Khoáng vật này có độ cứng 2 đến 3.
 
7. Quặng Dunit và Kiserit.
Dunit Mg2SiO4 + Fe2SiO4 là loại quặng chứa 24-28% MgO 35-39% SiO2 và 3-8% FeO.
Mg2SiO4 không hòa tan trong nước, nhưng Mg có thể trao đổi với ion H trong phức hệ hấp thu, vừa khử chua vừa làm giàu Mg.
Kiserit (MgSO4.H2O) và magie sunphat (MgSO4.7H2O) là hai loại muối hòa tan.
Trong Kiserit có chứa 29,13% MgO, magie sunphat có chứa 16,2% MgO.
 
8. Phân Magie Chelate (EDTA-Mg-6)
Tên hóa học:
Ethylenediaminetetraacetic acid, Magnesium - Disodium complex, Magnesium sodium ethylenediaminetetraacetate
EDTA-MgNa2
Công thức phân tử: C10H12N2O8MgNa2
Khối lượng phân tử: 358.52
pH = 6.5 – 7.5
Dạng bột màu trắng xám, hòa tan tốt và ổn định trong nước, độ hòa tan trong nước 99,95%
►►► Xem thêm: Vai trò của magnesium nitrate hexahydrate
 

Đối tác của Hacheco